Theo truyền thuyết, Thủy tinh là một
thần nước, hung ác thường xuyên dâng nước lên gây ngập lụt, khiên nhân dân điêu
đứng.
Tuy nhiên, căn cứ vào các cứ liệu
lịch sữ, có thể nhận định Thủy Tinh chính là hình tượng của Thục Vương – thủ
lĩnh vùng đất Âu Việt.
Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: HùngVương thứ 18 có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương. Vua nước
Thục nghe tin, sai sứ cầu hôn.Vua Hùng muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục
muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mỵ Nương, Thục
Vương căm giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đời cháu
Thục Vương là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng Hùng
Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Hùng Vương nói: Ta có sức thần,
nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi
thế, khi quân Thục lại kéo sang đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say.
Quân Thục đến gần,vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông
tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất. Giáp Thìn, năm thứ 1 [257
TCN], vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc Bộ máy nhà
nước của nước Âu Lạc không có nhiều thay đổi so với bộ máy nhà nước thời Văn
Lang. Đứng đầu trong bộ máy hành chính ở trung ương vẫn là Vua và Lạc Hầu Lạc
Tướng. Đứng đầu các bộ vẫn là Lạc Tướng. Đứng đầu các chiềng, chạ vẫn là Bồ
chính. Tuy nhiên, ở thời An Dương Vương quyền hành của nhà nước cao hơn và chặt
chẽ hơn. Vua có quyền thế hơn trong việc cai trị đất nước.
Truyền thuyết về Sơn tinh và
Thủy tinh – Hình ảnh từ cuộc xung đột vũ trang giữa Văn Lang và Nam
Cương.
Vào thời Hùng Vương thứ 18, Văn Lang
đã là một quốc gia suy yếu. Hùng Vương có người con gái nổi tiếng xinh đẹp
tuyệt trần đã đến tuổi xuất giá. Vua muốn chọn cho nàng một người vừa ý nên mở
hội kén rể trong cả nước. Bấy giờ, Thục Vương ở nước Nam Cương (Đất Âu Việt)
nghe tin, có ý muốn nhân đây mà thôn tính Văn Lang nên cho sứ sang cầu hôn.
Hùng Vương có ý muốn gả Mị Nương cho Thục. Nhưng Lạc Hầu và Lạc Tướng can rằng
“Thục Vương chỉ có ý muốn lấy nước ta”, nên hiến kế cho Hùng Vương. Hội kén rể
trong nước đã chọn ra được Thánh Tản Viên. Khi Thục Vương qua nước Văn Lang đưa
lễ, bấy giờ có cả Thánh Tản Viên. Hùng Vương mới ra sính lễ “ai mang được đầy
đủ một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà. gà chín cựa,
ngựa chín hồng mao sẽ được đón Mị Nương về làm vợ đến trước ngày hẹn” thì
sẽ được lấy Mị Nương.
Câu đố của Hùng Vương đã được cả hai
người giải ra, tuy nhiên đường từ núi Tản Viên tới Phong Châu gần hơn đường từ
đất Âu Việt sang. Nên Thánh Tản Viên được lấy Mỵ Nương về. Thục Vương sang
muộn, không lấy được Mị Nương, trở về uất ức, cho rằng Hùng Vương chơi xỏ mình,
nên hiệu triệu binh mã sang đánh Văn Lang. Bấy giờ, Hùng Vương còn binh hùng
tướng mạnh nên sớm đánh tán quân Thục. Thục Vương trở về thêm phần uất ức mà di
chiếu cho con cháu ngày sau phải tìm cách diệt Văn Lang báo thù. Sau này cháu
Thục Vương là Thục Phán đã thực hiện được di chiếu đó.
Lời của tác giả.
Nhớ rằng:
Đất nước của chúng
ta trải qua hơn 1000 năm bị giặc Tàu phương Bắc đô hộ, mối nhục này
chúng ta đâu thể quên.
Tự hào rằng:
Đất nước của chúng
ta với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm oai hùng của các bậc
tiền nhân đi trước. Lẫy lừng nhất trong lịch sử là 3 lần đánh thắng
quân Mông – Nguyên khiến cho cả Thế giới khiếp sợ.
Ý thức rằng:
Lịch sử của Dân
tộc là những nỗi đau bất hạnh kéo dài triền miên. Sự thờ ơ với
lịch sử của mỗi người Việt Nam chính là con dao giết chết Dân tộc.
Và làn sóng xâm lăng của ngoại bang là không bao giờ kết thúc.
Vậy nên:
Là người Việt Nam,
không nhất thiết phải giỏi lịch sử. Nhưng phải biết và phải hiểu
lịch sử Nước nhà. Không làm rạng danh được tổ tiên thì phải để cho
con cháu được tự hào.